Tuesday, December 6, 2011
Nghe gió ở Angkor
Wednesday, May 11, 2011
Đà Lạt và Lê Uyên Phương
Những năm 60, 70, Lê Uyên và Phương đã sống tại Đà Lạt và cùng tạo nên những "dạ khúc cho tình nhân". Thành phố mộng mơ đã là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng tình yêu của đôi song ca nổi tiếng, là chốn dung thân cho những tháng ngày mỏi mệt, là nơi tái sinh sau những ngày khô kiệt, là thế giới đượm hương hoa và tràn ập ái tình. Có lẽ mong mỏi lớn nhất của tôi khi tới Đà Lạt là muốn được chạm vào không gian đã tạo nên những tình khúc tôi yêu thích, và biết đâu, cảm nhận được thêm một màu sắc nào đó trong những vần thơ nét nhạc quen thuộc kia.
Tôi đi giữa những bờ cỏ xanh, những con đường uốn lượn của Đà Lạt trong âm hưởng của Lê Uyên Phương. Cũng giống như khi nghe nhạc Đoàn Chuẩn, dù bất cứ đâu cũng có cảm giác bóng Hà Nội xưa nhè nhẹ lướt qua tâm trí, tôi đã thấy thành phố cao nguyên vừa nồng nàn vừa dịu êm trong những lời đau nặng của Phương và giọng hát chất ngất đê mê của Lê Uyên.
Đâu là khởi nguồn của xúc cảm? Tình yêu, lẽ sống hay chỉ giản đơn là mảnh đất nuôi dưỡng hồn người?
Tôi đã ngỡ sẽ tìm thấy ở đây những con đường duyên dáng vắng lặng, những mái nhà trắng mơ màng sau những đồi thông, một dáng vẻ dịu dàng ôm ấp trái tim cháy bỏng. Nhưng thành thật mà nói, tôi đã không được thấy đủ đầy.
Lãng du trong những xúc cảm của Lê Uyên Phương, hoang hoải kiếm tìm, nhưng dù có tách rời các yếu tố ảnh hưởng, tôi đôi khi cảm thấy mình lạc lối giữa sự đông đúc và đổi mới ở mảnh đất này.
Tự đáy lòng tôi hiểu mình không thể mong đợi được cất bước giữa những mộng mị của Đà Lạt như những ngày xa xưa, vẫn không tránh khỏi một chút chống chếnh.
"Theo em xuống phố trưa nay
Đang còn ngất ngất cơn say
Theo em bước xuống cơn đau
Bên ngoài nắng đã lên mau
Cho nhau hết những mê say
Cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chắt hết thơ ngây
Trên cánh môi say
Trên những đôi tay
Trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn.
Qua đi qua đi dứt cơn mê
Tình buồn chồng chất lê thê
Qua đi qua đi dứt cơn say
Tình này tình rồi thay
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần
Còn vùi sâu còn vùi sâu trong ngao ngán
Không dứt hết cơn ê chề
Ta sống trong vũng lầy
Một ngày vùi dần
Còn vùi sâu còn vùi sâu trong ngao ngán
Không dứt hết một lần đau..."
Nhưng Đà Lạt không để tôi rời đi như thế.
Bời thời khắc đẹp nhất đã đến, khi tôi đứng trước hồ Tuyền Lâm. Mặt hồ phẳng lặng, lòng người phẳng lặng. Tôi đã nghe tiếng Lê Uyên dừng lại nơi màu xanh huyền hoặc quanh hồ. Hầu như không có điểm chung giữa giọng thê thiết của Lê Uyên Phương khi hát Vũng lầy của chúng ta và khung cảnh tịch lặng này. Có một điều kì diệu nào đó đã diễn ra, những mỏi mệt trong tôi chợt tan biến, giữa nắng trưa gay gắt, tôi chôn chân trước màu xanh của Tuyền Lâm, nhẹ bẫng.
Đó dường như không phải điều tôi kiếm tìm, nhưng cảm giác thanh thản ấy thật lạ lùng, hiếm hoi và quí giá. Còn bao nhiêu vẻ đẹp Đà Lạt như thế mà tôi chưa biết...
Vì buổi trưa đó ở Tuyền Lâm, tôi biết mình sẽ còn quay lại Đà Lạt, như chờ đợi viết tiếp vào lòng mình, thêm một dấu yêu về đôi tình nhân đắm say đã chia nhau cả cái tên trên mảnh đất này.
Tuesday, September 21, 2010
Hang Tôm và Hoàng Su Phì
Khi ngồi lẩn mẩn xâu lại những đoạn kí ức về chuyến đi mùa xuân năm ngoái, tôi nhớ đến cây cầu Hang Tôm. Ở điểm nối giữa mùa đông và mùa xuân, những con đường Tây Bắc vẫn còn đỏ đặng hoang dại, dã quỳ và trạng nguyên rực rỡ sau những tầng bụi đỏ, những con đường đất vẽ những viền vàng lên những ngọn đồi xanh bạc, và kịp đón xuân bên những hiên nhà, nơi những gốc mận đã xòe hoa trắng một góc trời. Trên đoạn đường có đủ tất cả những màu sắc thần kì ấy, có cả nỗi hoang hoải lẫn sức sống mãnh liệt ấy, cây cầu Hang Tôm đứng ở giữa Tây Bắc, làm một gạch nối đơn sơ mà quan trọng giữa Điện Biên, Lai Châu và Sơn La. Cây cầu thấm trong nó lịch sử và tinh thần vùng đất ấy. Khi đi qua, có người nhớ, có người quên nó đẹp hay nó quan trọng chừng nào, như một lẽ tự nhiên khi bước qua một cây cầu, một lẽ tự nhiên vút qua một con đường có vô vàn điểm nhấn. Nhưng khi người ta biết sẽ chẳng còn lâu nữa cái điều tưởng là yên bình, bất biến kia sẽ biến mất mãi mãi trong cuộc đời này, cái gạch nối ấy biến mất như rạch lấy một quãng đứt gẫy giữa những vùng đất, giữa những vùng kí ức và giữa quá khứ với tương lai, người ta sẽ buồn mà tiếc nó biết mấy. Sự tiếc nuối hay đến quá muộn khi mọi thứ đã diễn ra rồi.
Mùa thu năm nay, cầu Hang Tôm đã cùng với cả thị trấn Mường Lay và một vùng bao la quanh đó, bao gồm dòng sông Đà dữ dội, sẽ chìm trong nước, chìm trong lịch sử, để một hình ảnh mới sang trang - thủy điện Sơn La.
Sẽ có một cầu Hang Tôm mới, một thị trấn Mường Lay mới, một lòng hồ thủy điện yên tĩnh mênh mông... Những dấu tích cũ của đời sống, văn hóa, lịch sử sẽ chìm mãi mãi trong hàng tỉ mét khối nước, biến mất trong không gian, mờ dần theo thời gian, tan dần trong kí ức, cũng giống như muôn vàn những điều khác trong cái xã hội đang chuyển mình thành hiện đại này.
Wednesday, April 28, 2010
Từ phở bò đến bún bò
Tình yêu Hà Nội trong tôi lớn dần lên từ những năm tháng ấu thơ, từ những miền kí ức xa xôi đã có mùi phở chín, mùi kem chanh, kẹo kéo, có hàng phở ông Thấu ở phố trên, có những cây bàng lá đỏ, có những quả bàng chín rụng đầy gốc quệt vôi trắng đục, có hồ Gươm, Tháp Bút, bên kia đường hàng phở và nước mía đang chờ.
Ở Hà Nội có thức quà nào cạnh tranh được với phở. Người người ăn phở sáng, phở trưa, phở tối và cả phở đêm. Hàng phở mọc lên khắp nơi, từ những hàng phở lớn gia truyền mở từ sáng đến đêm, đến những hàng phở nhỏ xíu chỉ phục vụ khu vực dân cư xung quanh, hay bán đêm cùng cháo, mỳ, miến. Phở nước mới là phở truyền thống, chỉ có phở gà và phở bò. Hàng phở ngon, ít nhất phải là hàng chuyên bán phở bò hoặc phở gà, bởi hai loại này cần nước dùng riêng. Hàng nào dùng hai loại phở chung một nồi nước dùng, thậm chí còn cho bún, mỳ, miến… chỉ là loại phở ăn cho đầy dạ dày. Nhưng quá nửa đêm đi tìm một bát phở, được ăn thứ nước dùng chung ấy mà tạm vừa miệng thì cũng đủ sung sướng lắm rồi.
Mấy lần vào Huế, tôi đều ăn bún bò. Chẳng cần phải vào Huế cũng biết bún bò là món ăn nổi tiếng và rất phổ biến. Nhưng phải vào Huế mới biết rằng bún bò được ăn nhiều như thế, như phở ở Hà Nội. Buổi sáng các hàng bún đã đông nghịt, từ nhà hàng bún mặt tiền rộng 10m chờ săn đón những khách du lịch như tôi đến hàng bún đầu ngõ chỉ kê dăm chiếc ghế con. Đêm, đi bộ hàng cây số cũng chỉ thấy các hàng bún và chè nối nhau trên những vỉa hè dài rộng vắng lặng.
Bún bò đặc trưng cho ẩm thực Huế, có cả vị chua, cay, ngọt, có mùi mắm và những miếng giò tôm rất thơm, nước dùng ươm màu đỏ và trong, có rau sống ăn kèm. Tôi không biết mỗi khi đi xa người Huế có mang trong mình nỗi nhớ mùi vị bún bò như tôi vẫn nhớ mấy bát phở chín nước trong của tôi không, nhưng chắc hẳn những người đã một lần đến Huế, khi ra đi sẽ nhớ lắm cái cảm giác gần gụi ở những quán hàng này.
Món ăn là văn hóa, món ăn là bản sắc. Tôi ăn và ngẫm nghĩ. Điều gì gửi gắm trong mỗi món ăn này. Điều gì đã khiến hương vị của nó trở thành biểu tượng ẩm thực, trở thành thứ thân quen nhất với người ở và nhớ nhung nhất với người đi. Bây giờ từ món phở lợn khói nghi ngút trong sáng chợ phiên Mường Khương đến đĩa cơm gà đậm đà phố Hội đều khiến tôi xao xuyến. Ở đó có hương vị thật đặc trưng, có cách ăn, cách sống, có cách hỏi chuyện thật thân thương.
Mỗi nơi trên đất nước này đều có bao điều để khám phá, để thương, và nhớ. Mọi thứ sẽ chỉ sượt qua đầu óc ta, nếu ta không lắng nghe, nhìn chăm chú, nếm, sờ, và cảm nhận về nó thật chậm rãi. Đến Huế lần thứ ba, tôi chợt giật mình không biết đã bao lần mình hời hợt trên những chuyến đi, biết bao điều còn nằm lại sau những giọt mắm và những chiếc lá bay. Chầm chậm thôi, hãy thử, nhớ và yêu mỗi hương vị trên đất nước này, như nếm thìa nước phở đầu tiên trong một đêm đông .
Monday, November 9, 2009
Ô Quy Hồ
Nếu như vậy ắt hẳn Ô Quy Hồ cũng là người tình của tôi, người tình quen thuộc nhất giữa những người đẹp rạo rực mời gọi trong tâm trí mỗi khi chán chường. Hôm rồi tôi đã lại đi thăm nàng, lần thứ 5 trong năm nay, cả vì vô tình lẫn hữu ý mà nàng được ưu ái thế.
Sao nhỉ. Lần này nàng nõn mình dưới nắng. Nắng tràn trề , vàng rực và chói sáng. Nàng chẳng e ấp một chút nào. Không có những dải mây lững thững, không có những mảng sẫm nhạt luân chuyển dưới những tầng mây đầy vơi khác nhau, càng không có sương giăng, càng không có những đỉnh núi xanh thẫm ướt át. Ô Quy Hồ chìm trong khối nắng khổng lồ gay gắt, sáng lòa. Trời xanh ngăn ngắt nao lòng. Không phải lần đầu đến đây khi trời nắng như thế. Nhưng ít khi thấy những mảng núi xa xăm đến vậy, thấy màu của lưng đèo phai về đơn sắc thế mà những con đường lại óng ả hiện lên rõ đến từng viền đường, nổi rõ bần bật như căng một nét chì sắc gọn.
Rõ ràng là Ô Quy Hồ lúc nào cũng khiến tôi bất ngờ, vì một điều gì đấy.
Đường vẫn đang làm. Cái điểm dừng yêu thích nhất mà vẫn thường dừng lại thật lâu để nằm ườn ra nghe nhạc , trên những đám cỏ lưa thưa, giờ chỉ là những hàng gạch đá. Từ lần đi trước, đã biết như vậy, mà đến lần này quay lại, vẫn cứ cảm thấy có gì hụt hẫng.
Trời đã ngả sang đông, tháng 11 phủ lên thân núi những mảng vàng nâu cháy nắng. Dưới nắng chiều , ngàn lau và lá khô phất lên bài ca mùa đông. Qua những khoảng bóng núi che phủ, gió lùa lạnh run, phía trước lau trắng và lá nâu cùng vẫy, cùng lấp lánh nắng, tạo ra một cảm giác kì lạ. Mùa đông khô hanh đã đến đây rồi, và phơi ra bao nhiêu nỗi nhớ, cũng khô giòn như thế.
Friday, September 25, 2009
Sao trời trong xanh là thế...?
Cuối tuần trên những con đường tràn nắng, mây trắng xốp từng lớp từng lớp trên nền trời thăm thẳm xanh. Đã bao lần trên những con đường tôi ngửa đầu lên để chìm mình trong màu xanh hun hút ấy. Chưa bao giờ thôi cuồng lên. Màu da trời có bao sắc độ. Ở khoảng trời này nhứng đám mây trắng toát tỏa ra như sương, từ lớp mây dầy mịn nhẹ loang ra những dải trắng mềm , chầm chậm trôi như những dòng sông, mà lớp nền, màu da trời đã tựa như nếu ta nhìn mãi đến ngợp hồn trong ấy, nó sẽ biến thành màu cobalt, màu cobalt của những nỗi buồn lắng sâu, vời vợi và cao ngạo, da diết và lặng lẽ. Mảng trời màu cobalt khiến lòng người bối rối. Không giống màu cobalt nhuốm hồng buồn mênh mang của hoàng hôn, không giống màu cobalt sẫm dần sang màu đêm khi trời sập tối, khi trăng lên lờ mờ sau những hàng cây, màu xanh cobalt đậm đặc giữa buổi trưa mùa thu giữa một vùng trời mênh mông núi đèo khiến tôi có cảm giác bị hút thẳng vào nó, và lẫn lộn giữa những những dòng cảm xúc trái ngược, cả vui lẫn buồn, đôi khi nghèn nghẹn vì điều gì không hiểu.
Một đoạn đường khác, màu trời dịu dàng hơn, nhẹ nhàng và trong sáng. Màu xanh gợi cảm giác yên bình. Màu xanh làm những viền núi nổi bật mạnh mẽ và khoáng đạt. Có lúc màu xanh ấy lan rộng đến độ ta tưởng như đó là một đại dương, không một vệt mây, không một chút trắng, tất cả đều xanh, vì thế mà thi thoảng ta thấy sự trong trẻo dịu dàng quá đỗi cũng trở thành gay gắt. Màu xanh hút mắt và gọi niềm phấn khích ào ào réo lên.
Trời xanh như thế, chỉ là một khoảng màu và ánh sáng bất tận, mà cứ ngợp mắt dõi theo, và rồi nếu những đám mây vần vũ bay qua, lại thoáng tưởng như mình bồng bềnh trôi ngay theo được. Nhất là khi đứng nơi lưng đèo, không gian trước mắt mở ra vô cùng, những khối mây cuồn cuộn đậu trên những dãy núi dài, và chân trời phẳng lặng một màu xanh hút dần đến điểm trắng chói lòa phía xa, cảm giác thật khó tả. Ôi bầu trời mùa thu ngày nắng là như thế, làm những con đường phiêu du lộng lẫy biết bao nhiêu. Và để biết ta còn yêu đời này đến nhường nào.
Monday, July 13, 2009
Nhớ đường
Hà Nội ngày mưa bão. Tháng bảy, thật hiếm có khi nào không khí lại trở nên mát lạnh trong lành đến vậy. Những cơn gió lùa từng đợt ào ạt qua khung cửa, rồi bất chợt dịu dàng, đưa bàn tay mang đầy hơi nước vuốt nhẹ lấy da cổ khiến người ta ngỡ như trong chớp mắt đã được về với lúc cuối thu đầu đông se se lạnh yêu kiều nhất của Hà Nội. Cái cảm giác ấy cũng làm tôi nhớ nhiều thứ.
Đêm đặc quánh tịch mịch, giọng Billie Holiday như trôi về nơi nào xa lắm, tôi đọc lại những dòng cảm xúc về những chuyến đi viết trong những khoảng thời gian khác nhau, đọc lại hợp tuyển Đi và Viết, lòng thấy nao nao. Như chợt thấy mình trôi giữa những đám mây dã quỳ, như thấy mình đứng trước biển mây Hoàng Liên, như thấy mình lao vùn vụt qua những bản làng đầy mặt trời sơ sinh má đỏ, như thấy khói đốt đồng nhòe mắt… Đọc, và thấy mình trong ấy. Tôi lại ngập trong nhớ nhung về những ngày đã xa, những khoảnh khắc đã đi qua trong niềm phấn khích hoang dại hay buồn vương mênh mang.
Tôi vừa đọc lại những thứ mình viết trên blog sau chuyến đi Tây Bắc hồi đầu năm. Nỗi nhớ quả thực chẳng bao giờ chỉ có một màu duy nhất. Cùng một chuyến đi, cùng một hình ảnh mà mỗi lúc ghi lại nỗi nhớ, cảm xúc lại đổi thay vài phần. Nhưng dù thế nào thì cũng tràn đầy tình yêu. Cũng như lúc này đây, tôi lại muốn chạm tay mình vào không gian đó, lãng quên những muộn phiền trong cuộc sống này, và đi đến tận cùng những xúc cảm trong mình.
Trái tim tôi có lẽ đã để lại trên những con đường ấy…
Ngày thứ hai của chuyến đi, từ Sơn La đến Tuần Giáo, một ngày mùa xuân …
…
Ngày hôm nay tôi cảm thấy một phần hồn của những con đường ấy, những đồi đất đỏ, những lớp bụi vàng, dã quỳ vàng rực và trạng nguyên thắm đỏ cả đất trời. Con đường ấy không mướt xanh như Hà Giang, nó quện một màu vàng hoang sơ khó tả. Tất cả mọi thứ nhuộm sắc không gian vàng như một ngày cuối hạ đầu thu, ta lang thang giữa những đồng lau cháy nắng và mặt trời đỏ rực, cây lá ngân lên những bài ca màu đỏ, một thoáng u buồn, một chút cuồng dại, nhiều khát vọng lẫn trầm tư.
…
Ngày thứ ba của chuyến đi,
Sớm nay không có nắng. Mặt trời ủ ê trong chăn ấm. Đường đi Tam Đường phủ dầy sương.
Con đường mềm mại và tĩnh lặng giữa hai hàng cây lá vàng bàng bạc trong sương gợi nhớ đến tranh của Levitan. Nhưng sắc vàng trên con đường Tây Bắc của tôi không phải như thế, nó mỏng manh và hoang liêu hơn nhiều.
Tôi đi giữa con đường mùa đông ấy với tất cả sự bình thản và yên tĩnh trong lòng, tựa như chạm tới đáy sâu của tâm hồn, nơi tất cả trong veo và phẳng lặng như mặt hồ ngày thu. Con đường ấy khiến tôi cảm nhận về mọi thứ một cách dịu dàng và trong trẻo. Cuối cùng thì tôi vẫn yêu nhất cảm giác của mùa đông, khi đất trời đều lặng im trong những làn khói bạc và gió khẽ reo lên những khúc ca buốt giá ngọt ngào.
…
Cùng là đi trong sương, mà cảm xúc khác nhau đến lạ. Cảm giác bình yên trong trẻo đấy không giống cảm giác tĩnh lặng mà tôi có khi đi qua Pha Long hai ngày sau đó, cũng khác với cảm giác chơi vơi trên đường đến Bắc Hà, lại càng khác nỗi buồn giăng mắc trong một ngày sương gió Mộc Châu giữa tháng ba. Vì thế mà tôi nhớ mỗi nơi bằng những niềm riêng.
Ô Quy Hồ
Lên Ô Quy Hồ lần này cho tôi cảm giác gần như hoàn toàn khác trước. Lần trước tôi qua đây, đi xuyên qua mây, sương giăng ngập lối, con đường kì ảo không biết bến bờ, không biết đến trời. Lần này, nắng thấm đẫm mọi nơi, nhuộm núi đèo vàng rực, nhảy nhót và ve vuốt bàn tay ấm nóng lên tất cả những con đường. Tôi nhìn xuống khoảng nắng ngập đầy thung lũng một cách lạ lẫm. Nhưng tôi vẫn hét lên. Hét lên giải phóng hết niềm tin, hạnh phúc, lẫn bế tắc cô đơn trong mình. Tôi yêu con đường ấy.
Chúng tôi nhóm lửa, mang thức ăn ra nhấm ngon lành và nằm dài sưởi nắng. Tôi nhìn mặt trời chói gắt qua những thớ vải đen trắng đắp trên mặt. Nắng đỏ rực má. Tiếng Trịnh Vĩnh Trinh đã cất lên.
“Mặt trời như trái cây tuyệt vọng
Rơi trong đêm rơi trong đời nàng
Và từ đó có em thì thầm
Lời quạnh hiu suốt con đường tình.”
Tôi lim dim ngủ trong tiếng Khánh Ly. Buổi trưa trôi êm trên đỉnh núi. Cơ thể tôi, tâm hồn tôi tan ra chầm chậm, để gió thổi qua mát rượi, để mặt trời nung nóng, rồi cuốn tôi lên những từng không. Giữa bát ngát mênh mông, tôi nằm im, và lắng nghe tiếng mình. Tôi đang thở, tôi đang sống, tôi đang yêu, tôi đang hi vọng, tôi đang kiên cường. Những giờ phút ấy có lẽ sẽ còn đê lại những dư âm vang vọng hồn tôi rất lâu nữa, để tôi sống bằng trọn vẹn con tim này, và yêu đời nhiều hơn.
…
Sau chuyến đi, tôi nói với bạn rằng tôi sẽ nhớ mãi khoảnh khắc ấy. Bạn nói tôi sẽ quên. Nhưng không. Giờ này khi đọc lại, ánh nắng ấy vẫn chói chang trong tôi, tất cả những cảm xúc ấy vẫn còn nguyên vẹn.
Tôi vẫn nhớ, cả nỗi buồn xâm chiếm tôi khi chiều buông, ngày hôm ấy…
…
Cảm giác dịu lại ấy không ngăn được tôi thấy lòng mình thật buồn khi đổ dốc xuống Lào Cai. Đường đi đỏ rực ráng chiều. Những ruộng bậc thang khô cỏ cháy lên và những sườn núi nhuộm đỏ từng dòng dung nham nóng chảy. Khung cảnh ấy choán ngợp hồn tôi. Choán ngợp hồn tôi. Màu đỏ rực rỡ, day dứt và ám ảnh.
Chúng tôi đi Mường Khương khi trời chiều đã đi gần hết chặng đường. Những dãy núi mờ dần sau những khoảng trời hồng đang ngả dần sang tím. Núi rừng u tịch bóng xế tà. Tôi lặng nhìn màu tím nhạt nhoà buông dần lạnh lẽo. Tôi với Quân không ai nói điều gì. Dường như chiều càng muộn thì Quân càng phóng nhanh. Chúng tôi chạy đua với mặt trời. Đường lên cao mãi.
…
Chuyến đi ấy đã thay đổi rất nhiều thứ trong tôi mà mãi sau này tôi mới nhận ra. Những ấn tượng sâu đậm đã hóa thành nỗi nhớ, đôi khi trở thành điểm tựa tinh thần, mà mỗi lần nhìn lại, như chầm chậm mở ra một món quà quý giá, như nhấm nháp của để dành, thấy yêu sống nồng nàn hơn.
Trời lại xối xả mưa. Tiếng mưa gió gào thét ngoài cửa sổ thoáng làm tôi gai gai cảm giác của ngày đi qua đèo Khau Phạ, những cơn mưa từ Xương Điền, từ Mộc Châu, từ Mù Căng Chải… nhập vào cơn mưa đêm Hà Nội, làm lòng tôi trào lên ham muốn được lao ra dưới bầu trời kia, mưa táp rát mặt và gió cứa da lạnh buốt, lạnh buốt. Tai sẽ văng vẳng tiếng Khánh Ly. Em đứng lên gọi mưa vào hạ…
3 giờ sáng rồi. Mai sẽ lại là một ngày mưa.
Monday, June 22, 2009
Fansipan
Từ ngày đôi chân tôi được đặt lên đỉnh Fansipan đến hôm nay là tròn năm mươi ngày. Trong suốt khoảng thời gian ấy tôi không hề viết lấy một câu về hành trình vô cùng đáng nhớ này. Không phải bởi vì trái tim đã thôi không rạo rực, tâm hồn không còn vương vấn con đường xuyên mây xuyên gió xuyên mưa. Không phải tôi đã quên. Tôi dừng mình lại, cố giữ nỗi nhớ, để sau những cuộc vui sôi nổi với nhóm bạn đồng hành, sau những khuấy động ồn ào mà những người cùng leo Fan thời gian ấy đốt bùng lên trên các diễn đàn, tôi còn giữ lại hình ảnh hành trình ấy, cho riêng mình, lắng đọng, thanh trong.
Fansipan, có lẽ đã trở thành tiếng gọi đam mê với nhiều người, và cũng là đích đến hấp dẫn của rất nhiều người khác, với muôn vàn lí do. Mấy năm gần đây, “leo Fan” như thành mốt. Số lượng người leo đông đến khó tin, và sẽ còn tiếp tục đông hơn nữa. Có điều gì đặc biệt ở chuyến đi hành xác ấy khiến người ta cứ lao vào như những con thiêu thân vùi mình trong lửa? Quay lại cách đây gần ba năm, cái hồi tôi mới bước chân vào thế giới mà giờ mọi người vẫn gọi là “phượt”, tôi bắt đầu lẩn mẩn dõi theo những bài viết của những người đi trước, rộn ràng ước ao được đến những vùng đất hoang sơ, đắm chìm trong những bức ảnh thiên nhiên tươi đẹp, những sắc màu đời sống hồn hậu ấm nồng, những bước chân phiêu lãng… Và một cách tự nhiên, tôi cũng được biết đến một đỉnh Fansipan – không chỉ là đỉnh núi cao nhất Việt Nam, từ những bài học địa lí vỡ lòng – mà còn là nơi thỏa mãn khao khát chinh phục, là hành trình trải nghiệm, và với những người yêu mây: một thiên đường.
Mong muốn chinh phục đỉnh cao ấy từ lúc nào ngấm dần trong tôi tích thành một sự thôi thúc kì lạ. Nhưng sau khi từ đỉnh Fan trở về, tôi mới hiểu, hạnh phúc đậm đà nhất của tôi trên hành trình ấy, không phải là khi tôi ôm lấy đỉnh chóp khắc tên nóc nhà Đông Dương trong màu áo đỏ sao vàng, mà là khi tôi và bạn bè mình chìa tay níu lấy nhau leo qua những đoạn suối lạnh cóng, xối xả mưa, đôi chân tê cứng ngại ngần bước tiếp, nhưng tinh thần vẫn tràn đầy quyết tâm, là khi tôi một mình lặng ngắm những dải mây xa ửng lên giữa một trời mịt mùng sương gió, đồi cháy chìm lặng trong chiều, và những cánh hoa bé xíu lẫn mình trong rêu đá mơ màng.
Năm mươi ngày đã qua. Những ngày này Hà Nội nắng cháy, cái nóng thiêu đốt da thịt, linh hồn mỏi mệt càng thêm khô kiệt, tôi nhớ ngày hôm ấy biết bao. Mưa trắng trời. Lạnh. Chúng tôi chỉ biết tới con đường dưới chân mình và tiến lên. Mỗi lúc dừng nghỉ, tôi nghe cái lạnh thấm trong mình, với cảm giác yên bình hiếm gặp. Tôi vốn là một đứa thể lực rất kém cỏi. Để có đủ tự tin leo lên Đỉnh với trạng thái tốt, không trở thành gánh nặng của mọi người, tôi phải tập luyện trước đó gần ba tháng. Thế nhưng quả thực có những lúc tôi cảm thấy đôi chân mình không muốn nghe lời, hơi thở quá nặng nhọc. Tôi dừng lại hít thở thật sâu, cười thật tươi với bạn bè, thật may mắn sau mỗi lúc như thế tôi thấy mình khá hơn. Tôi thấy hạnh phúc dạt dào khi mình ở trong tốp đầu tiên, giữa những người cố gắng nhất, có thể động viên mọi người và nói rằng tôi ổn cả, có thể đôi khi mỉm cười dừng ngắm những bông hoa dại bên đường, có thể tiếp tục hát khi dồn sinh lực trèo lên những tảng đá trơn, tăng tốc, tăng tốc, cố gắng, cố gắng. Tôi thấy mình thực sự sống, bằng tất cả thể xác và tâm hồn. Cảm giác ấy rất đặc biệt. Chỉ còn thấy cơ thể lao đi, chân bước, tay với, miệng hát không ngừng, đầu óc nhẹ bẫng, tim nhảy rộn ràng. Ngày hôm ấy đã cho tôi cảm giác tự tin và phấp phới hi vọng – một cách quá đỗi màu hồng- về khả năng vượt qua mọi khó khăn. Dù biết cảm giác ngọt ngào ấy chỉ là do những phấn khích trên đường, rồi sẽ tan dần khi đỉnh núi mù sương phai dần trong kí ức, tôi vẫn rất trân trọng. Đó có lẽ giống như một món quà tôi dành tặng cho chính mình, để mỗi lúc sa sút tinh thần, lôi ra chiêm ngưỡng, và bình tâm mà cố vượt qua.
Tôi cũng yêu vô cùng cảm giác lững thững một mình trên đường xuống điểm 2200 hôm ấy. Ánh chiều nháng lên trên những viền núi xa xôi. Mây lải rải trôi, bồng bềnh sương khói. Bầu trời nhuộm màu kì lạ, vừa lộng lẫy huy hoàng, vừa phong trần phai bạc. Tôi đi một mình, thong thả ngắm mây bay. Hiếm có lúc nào có cảm giác vừa bình yên vừa phóng khoáng vừa dữ dội như thế, mình gần gũi với chính mình hơn bao giờ hết, trải hết những ước ao thầm lặng với gió, lặng cười và khóc một mình. Tôi những muốn dừng ở đó mãi.
Gần hai tháng sau ngày trở về, xúc cảm mạnh mẽ của những ngày đầu tiên đã lắng thành nỗi nhớ. Tôi muốn quay trở lại. Fansipan - nơi đất trời vời vợi, gió mây mưa nắng giao hoan, tôi thả mình trôi…
Tôi vẫn nhìn thấy em giữa đám đông xa lạ
Vì em mang trong mắt nỗi yêu đời thiết tha…
Thursday, May 21, 2009
Nhớ những miền xanh
Đôi khi, là một cảm giác xao xuyến thật khó hiểu. Như khi nhìn vào màn mưa trắng đất trời ở một góc đường Hà Nội, chợt nhớ đến ngày mưa trên đèo Khau Phạ, trong một ngày đã rất xa xôi, nơi mà những vùng kí ức đã loang dần vào sương, tôi thấy mình dịu lại bất ngờ. Lòng thanh lặng, và nỗi nhớ len lén tỏa hương như trà mộc ngày đông.
Thanh lặng. Nỗi nhớ đôi khi bồng bềnh mênh mang dịu dàng như một làn khói mỏng. Tôi thích những lúc bất chợt thật nhẹ lòng khi thấy một viền mây rực sang nơi cuối trời, cơn mưa bang bạc trên hồ, lá bay nghiêng nghiêng trong nắng, làm tôi mơ màng tưởng như mây núi hoang dại đã về thật gần bên mình giữa Hà Nội chật hẹp này.
Sáng nay HN mưa bay, rồi nắng lên rất dịu. Tôi xem ảnh HG và thấy mình lắng lại.
Nhớ những miền xanh.
Những khoảng nắng hiền mơn man như thế, cỏ xanh mịn màng mời mọc, mình muốn lặng im, lặng im mãi, cho mình tan lẫn vào những thảm xanh ấy.
Nhớ, đã có khoảnh khắc, khoảng xanh bao la dạt dào nắng gió như ngừng lại, tất cả thời gian và không gian ngừng lại, màu xanh sẫm dưới chân người, màu xanh úa vàng bên lưng đồi, màu xanh cháy nắng trên đỉnh núi, màu xanh ngăn ngắt ngô chen đá, màu xanh non mềm cỏ mới, và bầu trời cũng vời vợi xanh. Chết chìm trong màu xanh. Lúc ấy chỉ muốn nằm lại mãi, ngủ một giấc dài, rồi khi mở mắt ra, lại thấy tất cả màu xanh lần nữa hòa vào mình.
Có nơi nào xanh hơn thế chăng
Nơi những đám mây bay quên ngày tháng
Cỏ cây ríu rít tự tình
Núi say men nắng
Người say men gió
Đường chơi vơi bay mãi tới trời
Và những con mắt khói
xanh trong xanh biếc xanh
Friday, May 15, 2009
Hà Giang. Điên. Nhớ.
Đã hai năm rồi, có lẽ những con đường ấy vẫn mướt xanh như vậy, có lẽ những đỉnh núi vẫn chia nắng sẻ mưa như thế, chỉ có lòng người là khác. Không biết giờ này nếu đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng, tôi có còn điên lên muốn lao xuống đắm mình trong dòng sông Nho Quế như ngày ấy nữa chăng. Con đèo ấy, đã cho tôi những cảm xúc tựa như phi thường, tôi đã sống trong những phút giây lộng lẫy, cảm thấy mình tan được thành nước xuôi theo dòng, thành mây trôi lững lờ chờn vờn bên sườn núi, thành gió để lượt là bay ôm ấp hết cỏ cây xanh rợn ngợp đất trời. Tôi thấy trong tôi một miền xanh bao la và cứ thể trải ra hết với mây ngàn. Tôi tan trong gió lộng. Gió cuốn tôi phiêu lãng, thênh thang.
Ngày tôi qua Mã Pí Lèng trời oằn mình ngã xuống những đỉnh núi. Mưa bay một vùng trời xám miên trường. Đâu đó nơi xa còn vài giọt nắng loang hiền mơn man như ru lòng dịu lại. Những con đường chao đảo. Tôi nghiêng, tôi say, tôi đắm trong chiều. Có thể nỗi nhớ là một lăng kính hồng nơi người ta ôm ấp những cảm xúc đẹp đẽ nhất vào mình, có thể đôi khi nỗi khi làm người ta tự phóng đại chính những xúc cảm trong mình. Nhưng đã là yêu thì ai tính đếm. Yêu. Yêu . Yêu. Nhớ nhung làm ta thấy cuộc đời sáng trong dịu ngọt, làm ta bừng bừng lửa cháy, và cũng làm ta sầu như chìm vào khoảng tối mênh mông. Những ngày này, khi chới với trong những khoảng rỗng mỏi mệt lặng lờ, tôi xem ảnh Hà Giang trong những dòng cảm xúc lẫn lộn, nhưng buồn nhiều hơn vui.
Mã Pí Lèng mưa ngút ngàn. Cứ có cảm giác như mưa Hà Nội mấy hôm nay và mưa trên đỉnh đèo mây phủ đã hòa lẫn vào nhau, ám vào tôi mong ước được vứt hết tất cả mà đứng giữa thiên đường đó, mưa táp mặt mát lạnh, há mồm ra đón mưa, mở to mắt ngắm mây núi chuyển mình, và hát vang. Hát vang. Hát tất cả những cái gì chợt hiện lên trong đầu. Hét lên. Hét cho tất cả những giả dối chán chường bế tắc của cuộc sống vỡ tan ra và tung bay theo gió. Rồi ở dưới dòng Nho Quế mềm mại kia, sông núi khẽ mở ra cánh cửa vĩnh hằng, thời gian dừng lại trong khoảnh khắc, và tôi sẽ lại thấy cuộc sống khoáng đạt vô ngần.
Thursday, April 23, 2009
Pha Long
Sương thanh cánh gió trong ngần
Khi mùa xuân còn chưa phai hết, những buổi sớm Hà Nội dìu dịu, khói toả sương bay, tôi thường nhớ đến ngày qua Pha Long đợt đầu xuân vừa rồi. Vì sao ư? Bởi vì trong kí ức của tôi, Pha Long mờ ảo như sương, dịu dàng như sương, thanh lặng như sương. Pha Long hoá thành sương.
Đó là ngày thứ tư của chuyến đi, chúng tôi rời Mường Khương đi Simacai. Vì ham chơi chợ phiên, lưu luyến với xôi ngũ sắc, với những vạt váy đầy màu sắc và những gương mặt vừa hớn hở nói cười vừa ngon lành húp soàn soạt từng tô phở lớn bên nồi nước dùng nghi ngút khói thơm, hơn mười giờ chúng tôi mới bắt đầu rời khỏi Mường Khương.
Ngày hôm ấy mặt trời ủ ê trong chăn ấm, khiến bầu trời luôn mang một màu xám nhạt, lững thững sương giăng. Tôi qua Pha Long khi mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, thế mà tất cả núi đèo vẫn chìm trong màn sương trắng, những đỉnh núi cao và những thung lũng sâu đều mờ lẫn trong sương. Đôi khi tôi cảm thấy sương đặc đến mức có thể xoè từng ngón tay ra nắm lấy, hoặc dùng một ngón tay trỏ xoay một vòng, và sương sẽ gợn lên những vòng tròn như sóng nước. Cũng có lúc sương tan loãng ra cho tôi được thấy những sợi chỉ trắng chập chờn trên những dãy núi xa. Tôi đuổi bắt những sợi chỉ ấy đến lưng trời, nơi sỏi đá cũng phải mềm theo dấu chân đi, những ngôi nhà trình tường màu nâu nồng ấm trầm ngâm trong sương trắng và những cô gái má hồng khúc khích cười tôi.
Đường đi khó hơn tôi tưởng tượng. Có rất nhiều đoạn tôi phải xuống đi bộ, thậm chí đẩy xe giúp bạn tôi - người lái, khi qua những đoạn đường người ta mới chỉ xếp toàn đá hộc làm nền. Đường không có gì đặc biệt thơ mộng, Pha Long trong sương không mang cái vẻ bảng lảng quyến rũ của những con đường rợp cây lá cỏ hoa, sau màn sương vẽ lên những nét mềm kì ảo, nó chỉ có một lớp màu trắng nhờ nhờ ngai ngái buông rất nhẹ mà ám ảnh dai dẳng lên tất cả. Nhưng chính vì thế mà tôi cảm thấy thanh tĩnh vô cùng. Tôi và Q. dừng lại nhiều lần. Ngắm trời, ngắm đất, ngắm mây. Nghe tiếng lục lạc bò từ xa vọng lại. Thời gian dường như ngừng lại. Quá đỗi yên bình. Chúng tôi hỏi nhau: Ở đây, người ta cần gì, muốn gì? Một cuộc sống giản đơn, có đủ áo mặc cơm ăn, chưa có những so sánh để phải lo xa hơn những ước vọng gắn liền với nhu cầu cơ bản của con người. Có lẽ một điều gì đó mơ hồ đã len lén thoảng qua chúng tôi, những kẻ còn đang sống với bao điều phù phiếm trên đời. Cuộc sống bất tận này, bao nhiêu cho đủ, cho vừa?
Cùng lúc ấy trời hửng nắng. Màn sương đặc chưa kịp loãng ra khoe trần làn da hoang dại của núi rừng, nhưng cũng sáng lên đủ để tôi thấy tâm hồn mình được kích thích châm ngòi phát nổ. Tôi và Q. lao đi với khăn đỏ buộc trên đầu, cười nghiêng ngả với sự tích phóng tác về loài sếu Pha Long đầu đỏ, và hí hửng cười tít mắt với các cô gái nhìn theo chúng tôi đăm đắm cười duyên.
Tôi nhớ những nụ cười ngường ngượng trong veo hồn hậu ấy, rất nhiều.
Tôi nghĩ mình có duyên với Pha Long. Đường xóc làm can rượu chúng tôi mua ở Mường Khương rơi xuống đất. Can vỡ, rượu chan hoà với đất, thơm nồng lưu luyến. Tôi rất thích mùi rượu ngô ấy, cứ tiếc mãi vì sau đấy chẳng mua được rượu ngon như thế, nhưng lại rất vui khi nhớ đến chuyện đó.
“Rượu ngon phải có bạn hiền…” Cứ như thể tôi đã cùng đối ẩm với con đèo ấy. Cứ như thể chúng tôi đã thành tri kỷ, chia sẻ với nhau từng giọt men tình.
Tôi nhớ Pha Long như nhớ đến những khoảng lặng dịu êm nhất. Ở nơi ấy tôi đã chạm đến đáy lòng mình, đã chạm vào tâm hồn bạn, vào thiên nhiên và đời sống vùng núi ấy một cách giản dị, thanh bình. Hà Nội càng ngập đầy trong những rối ren, tôi càng nhớ cái cảm giác trong lành mềm mại ấy.
Pha Long, hẹn Người chén rượu với mùa sương.
Tuesday, April 21, 2009
Ô Quy Hồ
Không biết từ bao giờ cái tên Ô Quy Hồ với tôi đã trở nên thân thương đến lạ. Giữa những ngày cuối tháng tư oi nồng, mặt trời đầu hạ chói chang như bức tử ham muốn đội nắng đi chơi, tôi nhớ da diết cái cảm giác giữa trưa nằm ươn người trên Ô Quy Hồ, cho nắng trải mật lên thân, cho gió hôn rối rít, nhấn chìm cơ thể dưới nền trời xanh lồng lộng, ngơ ngẩn tìm những vệt mây trắng lải rải rong chơi, và nghêu ngao hát mãi.
Ô Quy Hồ có sức hấp dẫn kì lạ với những kẻ yêu Tây Bắc. Tôi chẳng phải ngoại lệ. Đôi lúc đứng giữa Hà Nội tôi thèm đến điên cuồng được lao mình lên dải lụa vắt vẻo trên lưng dãy Hoàng Liên ấy. Nỗi nhớ ấy có khi là một cảm giác bay bổng thật dễ chịu, khi toàn thân tôi bất chợt rung lên cảm giác của những lần căng hết lồng ngực hít đầy men gió, phấn khích gào lên trước những dải núi xanh cháy rực nắng và mây xếp tầng lộng lẫy như những vỏ trai khổng lồ giữa một trời xanh ngắt mênh mông, và cũng có khi là một nỗi phiền não mệt nhoài bởi muốn đi mà chẳng thể đi, ngậm ngùi giữa Hà Nội bề bộn chán chường.
Nhớ lại lần đầu tiên qua Ô Quy Hồ, cũng là lần đầu tiên tôi lên Tây Bắc, và kể từ đó lòng khôn nguôi nhớ về.
Ngày ấy, tôi thậm chí không biết đến sự tồn tại của con đèo huyền thoại này. Với bản đồ du lịch trong tay, từ Mù Cang Chải, tôi vẽ trong đầu một đường vòng lên Sapa và thuyết phục bạn đồng hành phá lịch trình định sẵn, tiếp tục đi lên phía Bắc, hoàn toàn không hay biết về con đường phía trước. Vì thế mà Ô Quy Hồ đã nuốt chửng chúng tôi. Tôi đã tan ra dưới sức mạnh kì vĩ của nó. Con đường dẫn đến thiên đàng. Lần đầu tiên tôi đã bay giữa những màn sương dày vô tận, đã căng từng nhịp thở khi lần mò giữa những đám mây xám cuồn cuộn sà xuống bao phủ núi đèo, đã nức nở đến vỡ cả tim khi từ trên cao nhìn xuống con đường phía dưới chập chờn ẩn hiện giữa những tầng mây trắng, mềm mại uốn lượn như sợi chỉ trắng bàn tay khéo léo nào đã thêu lên màu áo xanh miên man trùng điệp. Và từ những dãy núi xa mặt trời soi ửng những viền mi vàng dịu ngọt. Ngày ấy, một ngày đầu tháng năm trong xanh, cả ngã ba Bình Lư lẫn Sapa đều vàng ruộm nắng, riêng đỉnh đèo Ô Quy Hồ đẫm mình sương.
Ô Quy Hồ có ngàn vẻ đẹp. Tôi nghĩ vậy. Mỗi lần đi qua tôi lại thấy nó mang một vẻ đẹp mới mẻ, riêng biệt, lạ lùng. Và mỗi lần lại yêu theo một cách khác nhau. Tôi đã muốn khép hai hàng mi, trèo xuống một mỏm đá, đứng chơi vơi giữa màn sương trắng mịt mùng, gió táp rát mặt, vò tóc rối đẫm những hạt sương li ti, tìm một vạt nắng hiền, một trảng cỏ xanh non hé lộ sau những bước chuyển vần vũ của mây mù. Trong thinh lặng, tôi chờ nghe mình cất tiếng hát khẽ khẽ đôi câu rời rạc một cách vô thức. Khi ấy, tôi lại nhớ mùa đông Hà Nội, dịu lại mình trong lạnh buốt hoang liêu.
Ngày chưa đặt chân lên Tây Bắc, chưa say những con đường đất đỏ, chưa điên theo những đỉnh núi xanh cao ngạo với trời, tôi còn chưa mê nắng như vậy. Tôi vốn chỉ thích ôm ấp những ngày đông giá không gian tịch lặng dưới những lớp sương mỏng mảnh, trời đượm xám u hoài, gió mùa cắt ngọt da thịt với những hàng cây bàng bạc vàng phai mà thầm ghét những ngày nắng chói gắt. Nhưng khi lao lên đường, tôi cuồng lên khi núi đèo ngập nắng. Cả đất trời rực sáng. Nắng ươm vàng trên từng cành cây ngọn cỏ. Nắng nhảy múa tưng bừng trên từng sườn núi lưng đèo, rọi xuống đáy thung lũng, làm tất cả thiên nhiên nồng lên nhựa sống dạt dào, ngàn vạn màu xanh mơn mởn rực rỡ tươi vui. Gần đỉnh đèo Ô Quy Hồ có một khúc tuyệt đẹp để dừng nghỉ. Từ nơi ấy có thể phóng tầm mắt ra xa mãi tới sâu hút chân trời, có thể ôm trọn toàn bộ núi rừng thung lũng xanh hoang dại cùng những con đường như lụa trời thả xuống níu khách thiên di. Tôi rất thích nằm ở đó, nghe nắng gió nồng nhiệt hôn mình, và mê mải hát quên đời.
Mặt trời như trái cây tuyệt vọng
Rơi trong đêm rơi trong đời nàng
Và từ đó có em thì thầm
Lời quạnh hiu suốt con đường tình.
Tiếng hát tan giữa muôn trùng. Tôi tự do. Tôi bay theo gió lên trời, thả trôi theo những áng mây lơ đãng, cười vang như nắng. Tôi phồng căng trong niềm yêu sống mãnh liệt, yêu cháy bỏng, rạo rực, thiết tha.
Có một lần tôi may mắn được thấy biển mây Ô Quy Hồ. Một cảnh tượng trong đời chẳng mấy kẻ mình đầy bụi thành thị như tôi có thể quên. Mây dầy xốp mịn màng tạo thành một lớp bọt kem cappuchino khổng lồ - dĩ nhiên là không rắc sôcôla lên trên và không có những hạt bong bóng vỡ li ti, một màu trắng thuần khiết tinh khôi mênh mang trên nền trời xanh ngắt đến vô cùng. Màu trắng ấy khiến tâm hồn người ta như được thanh tẩy, trở nên trong suốt nhẹ nhàng, tựa như đã lao mình vào lớp bông trắng vĩ đại kia, kì cọ bằng sạch lớp bụi trần, gột rửa mọi ưu phiền toan tính, rồi bay lên ngắm nắng chan hoà.
Đến khi mây tan theo gió, những dải lụa trắng uốn éo dưới những lưng đèo xa lại mê đắm dần hiện ra, như bờ vai nõn nà thấp thoáng sau lần áo mỏng, làm lòng xuân lữ khách xao xuyến không yên.
Trời buông gió và mây về ngang bên lưng đèo…
Thấy cuộc sống tươi đẹp vô ngần.
Vì thế mà cứ mãi thích trải lòng cùng mây gió, ôm lấy Ô Quy Hồ, dưới mặt trời ngồi hát hôn mê…